Hôm nay: 30.06.22 8:16

Tìm thấy 3 mục

Thuật ngữ pháp lý: Luật La Mã

Luật La Mã là hệ thống luật cổ, được xây dựng cách đây khoảng hơn 2000 năm (449 TCN), áp dụng cho thành Roma và sau đó là cả Đế quốc La Mã. 


Các nguồn của Luật La Mã thời Cổ đại được sưu tập trong Corpus Iuris Civilis được tái khám phá trong thời kỳ Trung cổ và mãi cho đến thế kỷ 19 vẫn được xem là nguồn luật pháp quan trọng trong phần lớn các quốc gia châu Âu. Vì thế mà người ta cũng có thể gọi các luật lệ có hiệu lực trên lục địa châu Âu trong thời kỳ Trung cổ và trong thời gian đầu của thời kỳ Hiện đại là Luật La Mã.

Trong khi rất nhiều thành tựu của thời kỳ Cổ đại có nguồn gốc từ người Hy Lạp và chỉ được người La Mã tiếp nhận thì Luật La Mã là một sáng tạo nguyên thủy của người La Mã không có gương mẫu Hy Lạp. Thế nhưng việc sử dụng các khái niệm và mẫu mực lý luận từ triết học Hy Lạp trong phát triển của ngành luật học La Mã đã đóng một vai trò quan trọng.

Luật La Mã thời Cổ đại


Đầu tiên, Luật La Mã là luật được hình thành từ việc hành luật lâu năm theo tập quán không có luật viết. Một trong những tác phẩm luật ra đời sớm nhất là Bộ luật 12 bảng (tiếng La Tinh: lex duodecim tabularum), thành hình vào khoảng năm 450 trước Công Nguyên.

Ngành luật học La Mã đạt đến đỉnh cao nhất trong những thế kỷ đầu tiên của thời kỳ hoàng đế (thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 3). Trong thời gian cuối của thời Cổ đại các học thuyết của ngành luật học cổ điển này có nguy cơ bị lãng quên. Để chống lại xu hướng đó Hoàng đế Justinian I đã ra lệnh sưu tập lại các bản văn luật cũ. Tác phẩm luật mà sau này được biết đến dưới tên Corpus Iuris Civilis bao gồm các quyển sách dạy về luật (công bố năm 533), tập san các bài văn của các luật gia La Mã (tiếng La Tinh: digesta hay pandectae), các đạo luật do hoàng đế ban hành (Codex Iustinianus, công bố năm 534) và các đạo luật đã được sửa đổi bổ sung (novellae).

Luật La Mã trong thời kỳ Trung Cổ và trong thời Hiện đại


Trong Đế quốc #Byzantine bộ luật của #Justinian vẫn là cơ sở cho việc thực thi luật pháp. Trong thế kỷ thứ 9 Hoàng đế Leo VI (886–912) cho ra đời bộ luật Byzantine mà về cơ bản là từ bản dịch ra tiếng Hy Lạp của Codex Iustinianus và các #digesta.

Thế nhưng Luật La Mã đã đi vào lãng quên trong Tây Âu trong thời gian đầu của thời Trung cổ. Đặc biệt là người ta không còn biết đến các digesta nữa. Vào khoảng năm 1050 các bản văn này được tái khám phá. Bắt đầu từ thời điểm này các luật gia người Ý là những người đầu tiên tiếp tục dựa vào Luật La Mã mà trường luật của họ tại Bologna đã phát triển thành một trong những trường đại học đầu tiên của châu Âu. Những người bình chú dân luật (glossator) diễn giải và hiệu chỉnh lại các bài văn theo nhu cầu và phương pháp đương thời. Sau đấy những người bình luận (commentator) biên soạn các bài văn về luật thành thành những tác phẩm mang tính thực tiễn.

Khi chính thể chuyên chế và thời kỳ Khai sáng bắt đầu, luật tự nhiên lại chiếm vị trí nổi bật. Vào đầu thế kỷ 19, cùng với Trường phái Luật lịch sử mà người đại diện nổi bật là Friedrich Karl von Savigny, người ta lại bắt đầu quay lại với Luật La Mã. Ngay các bộ luật dân sự hiện đại - như Bộ luật Dân sự Đức và Bộ luật Dân sự Áo trong văn bản đầu tiên – cũng thành hình trước tiên là từ Luật La Mã .

Tham khảo


Về luật


Max Kaser/Rolf Knütel: Römisches Privatrecht (Luật La Mã), 17. Auflage, München 2003. ISBN 3-406-41796-5

Detlef Liebs: Römisches Recht (Luật La Mã), 6. Auflage, Stuttgart 2004. ISBN 3-8252-0465-0

Fritz Schulz: Prinzipien des römischen Rechts (Các nguyên tắc của Luật La Mã), München/Leipzig 1934

Về lịch sử


Mario Bretone: Geschichte des Römischen Rechts (Lịch sử của Luật La Mã), München 1992. ISBN 3-406-36589-2

Wolfgang Waldstein, J. Michael Rainer: Römische Rechtsgeschichte (Lịch sử Luật La Mã), 10. Auflage, München 2005. ISBN 3-406-53341-8

Stephan Meder: Rechtsgeschichte (Lịch sử luật), Köln/Weimar/Wien 2002 (mehrere Auflagen). ISBN 3-8252-2299-3

Uwe Wesel: Geschichte des Rechts (Lịch sử luật), 2. Auflage, Berlin 2000. ISBN 3-406-47543-4

Wolfgang Kunkel/Martin Schermaier, Römische Rechtsgeschichte (Lịch sử Luật La Mã), 13. Aufl., Köln/Weimar/Wien 2001. ISBN 3-8252-2225-X

Nguồn: #wikipedia.org
by Luật Sư
on 09.10.15 9:43
 
Search in: Thuật ngữ pháp lý
Chủ đề: Thuật ngữ pháp lý: Luật La Mã
Trả lời: 0
Xem: 1125

Thuật ngữ pháp lý: Tư pháp

Theo luật học, cơ quan tư pháp hay hệ thống tư pháp là một hệ thống tòa án nhân danh quyền tối cao hoặc nhà nước để thực thi công lý, một cơ chế để giải quyết các tranh chấp.


Thuật ngữ này cũng được dùng để đề cập đến cả quan tòa ở các cấp, những người thiết lập nền móng cho một bộ máy tư pháp và cả những người trợ giúp cho hệ thống này hoạt động tốt.

Theo chủ thuyết tam quyền phân lập, cơ quan tư pháp là phân nhánh chính của một chính thể, có trách nhiệm chính về việc diễn giải luật.


  • Tại những nơi dùng thông luật, án lệ pháp được tạo ra từ các diễn giải luật của tòa án như là kết quả của nguyên tắc stare decisis;
  • Tại những nơi dùng dân luật, tòa án sẽ diễn giải luật nhưng, ít nhất theo lý thuyết, không được "tạo ra luật" và, vì vậy, không được ban hành các quyết định bao quát hơn các vụ án thực có thể được xét xử; trong thực tế, luật học đóng vai trò như án lệ pháp.
  • Tại những nơi dùng pháp chế xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm diễn giải luật thuộc về bộ phận lập pháp.

Những khác biệt này có thể được nhận thấy khi so sánh Ấn Độ, Hoa Kỳ, Pháp và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:

  • Trong nền dân chủ Ấn Độ, tòa án có tiếng nói cuối cùng cho đến khi hiến pháp tự nó được sửa đổi mặc dù một phán quyết của tòa án tối caovào thập niên 1970 quy định rằng nghị viện không có quyền thay đổi cấu trúc căn bản của hiến pháp Ấn Độ.
  • Với chính phủ Hoa Kỳ, tòa án tối cao là cơ quan có thẩm quyền cuối cùng trong việc diễn giải hiến pháp của liên bang và tất cả các đạo luật, quy định được tạo ra dựa theo nó.
  • Ở Pháp, cơ quan có thẩm quyền cuối cùng trong việc diễn giải luật là Conseil d'État (Hội đồng nhà nước), cho những vụ án hành chính, vàCour de cassation, cho các vụ án dân sự và hình sự.
  • Ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cơ quan có thẩm quyền cuối cùng trong việc diễn giải luật là Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc.
  • Ở những nước khác như Argentina có những hệ thống hỗn hợp gồm các tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm, một tòa cho tội phạm hình sự và một tòa án tối cao. Trong hệ thống này, tòa án tối cao luôn luôn là cơ quan có thẩm quyền cuối cùng nhưng các vụ án hình sự có đến bốn giai đoạn xét xử, nhiều hơn dân luật một giai đoạn.


Những khác biệt giữa dân luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa và thông luật


Trong dân luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, ý tưởng tòa án không diễn giải luật một cách sáng tạo có gốc từ luật La Mã. Người ta nói rằng vị Hoàng đế #Byzantine tên #Justinian I đã cho soạn ra bộ luật dân sự (Corpus Juris Civilis) và mang các quyết định trước đó của các luật gia đốt bỏ để tạo tính chắc chắn trong luật. Một lần nữa vào thế kỷ 19, các học giả pháp lý Pháp, vào thời điểm phát triển bộ luật Napoléon đã chủ trương một cách tiếp cận tương tự — một khi luật được biên soạn một cách chính xác thì chúng ta không cần phải diễn giải nữa; và nếu phải cần diễn giải thì nên để cho những người biên soạn luật đó làm. Napoléon Bonaparte, người chủ trương cách này, thấy rằng nhiệm vụ diễn giải luật nên để cho cơ quan lập pháp (đã được bầu ra) mà không phải là các thẩm phán (không được bầu ra). Điều này tương phản với bối cảnh tiền cách mạng ở Pháp, nơi mà parlement (một cơ quan chính trị không được bầu ra thời Pháp cũ) bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản trung lưu, vốn thường trì hoãn tuân thủ các quyết định của hoàng gia, bao gồm các cải tổ quan trọng.

Tuy nhiên, ý tưởng này dường như khó thực hiện trên thực tế. Ở Pháp, và những quốc gia bị #Napoléon xâm chiếm, hay những nơi chịu ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự, các thẩm phán lại giữ một vai trò quan trọng, giống như những người tương nhiệm của họ ở Anh. Trong tài phán dân luật hiện hành, các thẩm phán giải thích luật trong phạm vi như của tài phán thông luật – mặc dù nó có thể được thừa nhận trên lý thuyết một cách khác với truyền thống của thông luật, trong đó có sự thừa nhận một cách trực tiếp thẩm quyền hạn chế của thẩm phán trong việc tạo ra luật. Ví dụ, ở Pháp, jurisprudence constante của Cour de cassation hay Conseil d'État trên thực tế là tương đương với án lệ pháp.

Trên lý thuyết, trong tryền thống dân luật Pháp, một thẩm phán không được tạo ra luật mới, người đó chỉ diễn giải mục đích của "người làm luật". Vai trò của việc diễn giải luật được tiếp cận theo truyền thống là bảo thủ hơn trong tài phán dân luật khi so với điều tương tự trong tài phán thông luật. Khi luật không áp dụng được trong một tình huống cụ thể, những người biên soạn luật mà không phải là thẩm phán sẽ kêu gọi cải tổ luật pháp mặc dầu những học giả pháp lý này đôi lúc có ảnh hưởng tới việc ra quyết định của tòa án. Các thẩm phán dân luật cũng tìm những yếu tố quan trọng không chỉ trong những văn bản luật cụ thể mà còn mối quan hệ của chúng với cấu trúc toàn bộ của luật như là một cấu trúc có tổ chức, phản ánh trật tự trong một xã hội dân sự.

Pháp chế xã hội chủ nghĩa làm theo cách của dân luật, nhưng có thêm vào đó một ý tưởng mới từ chủ nghĩa cộng sản — việc diễn giải luật là có tính rất chính trị và phục vụ cho mục đích của chủ nghĩa cộng sản, và vì vậy không để lại cho các cơ quan phi chính trị (mặc dù trong thực tế, cơ quan tư pháp không có cơ quan trung lập nào ở trên chính trị).

Nguồn: #wikipedia.org
by Luật Sư
on 03.10.15 21:25
 
Search in: Thuật ngữ pháp lý
Chủ đề: Thuật ngữ pháp lý: Tư pháp
Trả lời: 0
Xem: 833

Thuật ngữ pháp lý: Hiến pháp

Hiến pháp là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. 


Nhiều #hiến-pháp cũng bảo đảm các quyền nhất định của nhân dân. Trong bài viết này, ngoài Hiến pháp được hiểu như hiến pháp chính quyền còn có một số hình thức khác mang nghĩa rộng hơn như là hiến chương, luật lệ, nguyên tắc giữa các tổ chức chính trị.

Các thực thể phi chính trị, dù hợp thể hay không, cũng có hiến pháp. Các thực thể này gồm các đoàn thể và các hội tình nguyện.

Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, nó thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân tồn tại ở trong hoặc ngoài nhà nước đó, nhưng vẫn là nhân dân thuộc nhà nước đó.

Lịch sử và sự phát triển


Topics tagged under byzantine on Diễn đàn luật sư Việt Nam 200px-Hammurabi


Chi tiết trên bia vua #Hammurabimiêu tả #Hammurabi đang tiếp nhận bộ luật từ thần Mặt Trời. Hiện vậtbảo tàng Louvre.

Những khai quật ở Iraq đương đại do #Ernest de Sarzec tiến hành vào năm 1877 đã tìm thấy bằng chứng của bộ luật pháp lý sớm nhất được biết đến do vua Urukagina ở thành phố Lagash, nước Sumer ban hành khoảng năm 2300 TCN. Có lẽ là nguyên mẫu luật chính phủ sớm nhất. Bản thân tài liệu này chưa được khám phá hết nhưng nó cho người dân nước đó một số quyền, chẳng hạn, việc giảm thuế cho các quả phụ, trẻ mồ côi và bảo vệ người nghèo khỏi bị người giàu cho vay nặng lãi.

Sau đó, nhiều chính quyền trị vì với các bộ luật bằng văn bản đặc biệt. Một tài liệu như vậy cổ nhất vẫn tồn tại có lẽ là của vua Ur-Nammuthành phố Ur (khoảng 2050 TCN). Một số Bộ luật nổi tiếng trong tài liệu đó là Bộ luật Hammurabi của Đế quốc Babylon xưa, Bộ luật Hittite, Bộ luật #Assyria, Bộ luật #Moses, và Trụ #Cyrus chứa đựng những lời răn dạy của Hoàng đế #Cyrus Đại Đế của Đế quốc Ba Tư cổ đại.[1][2]

#Aristotle (khoảng 350 TCN) là một trong những người đầu tiên chính thức phân biệt giữa luật thông thường và (luật) hiến pháp được ghi lại trong lịch sử. Ông ta đã thiết lập những ý tưởng về hiến pháp và chủ nghĩa hợp hiến, và cố gắng phân loại các hình thức khác nhau của chính phủ lập hiến. Khái niệm căn bản nhất mà ông ta thường dùng để miểu tả hiến pháp trong những thuật ngữ tổng quát là "sự sắp xếp các chức vụ trong một quốc gia". Trong tác phẩm của mình #Constitution-of-Athens, #Politics và #Nicomachean-Ethics, ông ta khảo sát tỉ mỉ các hình thức khác nhau của hiến pháp, đặc biệt là #Athena và #Sparta. Ông ta phân loại những hiến pháp ông cho là tốt và xấu, và ông đi đến kết luận hiến pháp tốt nhất là một hình thức pha trộn giữa những yếu tố quân chủ, quý tộc và dân chủ. Ông ta cũng phân biệt giữa công dân có những cơ hội riêng để tham gia trong nước và những người không phải công dân, nô lệ không có cơ hội đó.

Người La Mã lần đầu tiên soạn thảo hiến pháp Mười hai Điều (Twelve Tables) của họ vào năm 449 TCN. Chúng được thi hành dưới dạng một chuỗi các luật thỉnh thoảng được thêm vào, nhưng luật La Mã không được tổ chức lại thành một bộ luật riêng rẽ cho đến khi bộ luật Theodosianus ra đời năm 438. Sau này, bộ luật Justinianus ở Đế chế #Byzantine Đông có ảnh hưởng lớn cả Châu Âu.
Điều khoản thứ mười bảy của Hiến pháp Nhật Bản được soạn năm 604, được cho là của hoàng tử #Shotoku, là một hiến pháp điển hình trong lịch sử chính trị Châu Á. Ảnh hưởng của triết lý Phật giáo, hiến pháp chú trọng hơn vào đạo đức xã hội hơn là thể chế của chính chính phủ đó. Hiến pháp #Gayanashagowa (Great Law of Peace) được xem là hiến pháp khẩu truyền của dân tộc Iroquois ra đời khoảng 1090 và 1150 đã được cân nhắc và đã truyền một phần cảm hứng cho Hiến pháp Hoa Kỳ.

Topics tagged under byzantine on Diễn đàn luật sư Việt Nam 350px-Konstytucja_3_Maja

Hiến pháp ngày 3 tháng 5 năm 1791 (Tranh của Jan Matejko, 1891). Vua Stanisław August (trái, mặc áo choàng lông chồn ermine), vào Thánh đường St. John, nơi hạ nghị viện Sejm sẽ tuyên thệ và dương cao hiến pháp mới; ở phía bên dưới, ở Lâu đài Hoàng gia Warszawa, hiến pháp mới vừa được thông qua. Bảo tàng quốc gia #Warszawa.

Hiến pháp thành văn sớm nhất vẫn còn dùng ở một nước có chủ quyền đến nay là của San Marino. Hiến pháp San Marino được viết bằng tiếng #Latin vào năm 1300 bao gồm sáu quyển. Quyển đầu tiên có 62 điều, nói về việc thiết lập các hội đồng, tòa án, các viên chức hành pháp và quyền hành của họ. Các quyển còn lại nói về tội phạm và #luật dân sự và các thủ tục tòa án.

Khối thịnh vượng chung #Massachusetts thông qua hiến pháp năm 1780, trước việc thông qua Điều ước Liên bang và Hiến pháp Hoa Kỳ. Đây có lẽ là hiến pháp "có tên" vẫn được dùng cũ nhất vì văn kiện này tuyên bố rõ ràng rằng bản thân nó là một hiến pháp. Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1789 chịu ảnh hưởng của hệ thống hiến pháp Anh. Văn kiện đó trở thành cơ sở cho nền cộng hòa và hiến pháp được soạn ra sau đó. Nó cũng thường được cho rằng là hiến pháp được biên soạn có tính quốc gia hiện đại lâu đời nhất trên thế giới.

Hiến pháp chính quyền


Thường thấy nhất, thuật ngữ "hiến pháp" đề cập đến tập hợp các quy tắc và nguyên tắc quy định bản chất và phạm vi của chính quyền. Hầu hết các chính hiến pháp tìm cách điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan của nhà nước, quan hệ giữa ba bộ phận hành pháp, lập pháp và tư pháp ở mức độ cơ bản và mối quan hệ giữa các cơ quan thuộc ba bộ phận đó.

Các đặc điểm chính


Các đặc điểm sau đây là đặc điểm của hiến pháp dân chủ đã được các khoa học gia chính trị xác định cho hiến pháp ở phạm vi quốc gia.

Việc soạn thảo


Sự phân loại cơ bản là hiến pháp đã được điều lệ hóa hay không. Một hiến pháp đã được điều lệ hóa là một văn kiện riêng rẽ và là nguồn gốc của luật hiến pháp trong một quốc gia. Một ví dụ thường dùng cho loại này là Hiến pháp Hoa Kỳ. Ngược lại, hiến pháp không được điều lệ hóa là hiến pháp không được chứa đựng trong một văn kiện riêng rẽ và bao gồm nhiều nguồn gốc khác nhau có thể là thành văn hay bất thành văn. Hiến pháp Úc, Hiến pháp Anh là hai ví dụ điển hình của loại này. Hiến pháp Ấn Độ được cho là hiến pháp được điều lệ hóa dài nhất trên thế giới.

Hiến pháp được điều lệ hóa


Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có một hiến pháp được điều lệ hóa trừ ba quốc gia #Israel, New Zealand và Vương quốc Liên hiệp Anh và #Bắc-Ireland. Hiến pháp được điều lệ hóa thường là sản phẩm của sự thay đổi chính trị lớn như một cuộc cách mạng. Chẳng hạn như hiến pháp của Hoa Kỳ được viết ra và được thông qua không quá 25 năm sau cuộc Cách mạng Hoa Kỳ. Tiến trình một quốc gia thông qua hiến pháp có quan hệ mật thiết với hoàn cảnh chính trị và lịch sử dẫn đến các thay đổi căn bản.

Lợi ích rõ ràng nhất của hiến pháp được điều lệ hóa là có các điều mạch lạc và dễ hiểu. Hiến pháp được điều lệ hóa ít nhất thì cũng dễ đọc và là một văn kiện riêng lẻ. Mặc dầu nó tương đối rõ ràng nhưng hiến pháp được điều lệ hóa vẫn để lại một phạm vi giải thích rộng lớn cho tòa án hiến pháp.

Các quốc gia có hiến pháp được điều lệ hóa thường gán cho nó uy quyền tối cao so với các đạo luật thông thường khác. Đó là, nếu có xung đột xảy ra giữa một đạo luật và hiến pháp thì tất cả hay một phần của đạo luật đó có thể bị tòa án tuyên bố là vượt quyền (ultra vires) và bị cho là vi hiến. Ngoài ra, một thủ tục đặc biệt được yêu cầu để sửa đổi hiến pháp có liên quan đến ⅔ đa số trong cơ quan lập pháp quốc gia, sự đồng ý của các cơ quan lập pháp địa phương, cuộc trưng cầu dân ý hoặc một số thủ tục khác. Điều này làm cho việc sửa đổi hiến pháp khó hơn việc thông qua một luật nào khác.

Hiến pháp không được điều lệ hóa


Chỉ có ba quốc gia là Israel, #New-Zealand và Anh dùng hiến pháp không được điều lệ hóa (tính đến tháng 10 năm 2006).
Ở những quốc gia sử dụng hiến pháp không được điều lệ hóa, không có sự khác biệt giữa (luật) hiến pháp và các đạo luật (như luật áp dụng cho các khu vực cai quản) trong thuật ngữ pháp lý. Cả hai có thể bị thay thế hoặc loại bỏ bởi đa số trong nghị viện. Trên thực tế, các chính phủ dân chủ không dùng cơ hội này để bãi bỏ tất cả các quyền công dân mà trên lý thuyết họ có thể làm như vậy.
Xem thêm: Các luật chính của Anh

Sự phân bổ quyền lực


Hiến pháp cũng thiết lập quyền lực trong một nước. Có hai loại phân bổ quyền lực cơ bản là: liên bang và nhất thể. Hệ thống chính quyền liên bang có hiến pháp công nhận sự phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương trong một quốc gia. Hiến pháp Canada là một ví dụ điển hình, đó là sự phân chia quyền lực giữa chính phủ liên bang và các tỉnh bang. Hiến pháp nhất thể công nhận quyền lực chỉ tồn tại ở trung ương. Anh là một trong những nước sử dụng loại hình này.

Sự phân tách quyền lực


Hiến pháp thường biến đổi lớn theo mức độ phân tách quyền lực, thông thường là sự phân tách của các bộ phận hành pháp, lập pháp và tư pháp của chính quyền. Hiến pháp Hoa Kỳ có sự phân tách quyền lực đầy đủ vì với mỗi bộ phận đều có quyền được giao cụ thể. Ví dụ, Quốc hội, cơ quan lập pháp Hoa Kỳ có quyền buộc tội (các quan chức) mà các bộ phận khác không có quyền.

Giới hạn trách nhiệm


Giới hạn trách nhiệm là một đặc điểm chung của tất cả các hiến pháp dân chủ. Ở hệ thống chính phủ tổng thống, như Hoa Kỳ và hệ thống bán tổng thống, như Pháp, các bộ trưởng có trách nhiệm với tổng thổng, người có quyền bảo trợ để chỉ định hay sa thải bộ trưởng. Tổng thống có trách nhiệm với nhân dân trong một cuộc bầu cử. Trong hệ thống nghị viện, như Anh và Úc, các bộ trưởng có trách nhiệm với nghị viện nhưng thủ tướng lại bổ nhiệm hay sa thải họ (ở hệ thống #Westminster, quyền này xuất phát từ quốc vương, thành viên của nghị viện). Cũng có khái niệm về việc bỏ phiếu bất tín nhiệm ở nhiều nước theo chế độ nghị viện, điều này có nghĩa là nếu đa số trong bộ phận lập pháp bỏ phiếu cho cuộc vận động bất tín nhiệm thì chính phủ phải từ chức, và một chính phủ mới sẽ được thành lập hoặc nghị viện sẽ bị giải tán và cuộc tổng tuyển cử sẽ diễn ra.

Hiến pháp hình thức


Nhà lý luận chính trị Ý #Giovanni-Sartori cho rằng sự tồn tại của hiến pháp là vẻ ngoài của nguồn quyền hành độc đoán. Trong khi các tài liệu như vậy diễn tả sự tôn trọng nhân quyền hay thiết lập một bộ máy tư pháp độc lập, thì trong thực tế chúng có thể bị làm ngơ một khi nhà cầm quyền cảm thấy bị đe dọa hay hoàn toàn bị sỉ nhục. Một ví dụ điển hình là Hiến pháp Liên Xô, trên văn bản thì đảm bảo quyền tự do lập hội hay quyền tự do ngôn luận nhưng trên thực tế, công dân nếu làm như vậy thì họ sẽ bị bỏ tù (tù nhân chính trị). Ví dụ đó cho thấy rằng sự bảo vệ và lợi ích mà hiến pháp đem lại ít hơn thông qua những điều khoản được thảo ra, nhưng đem lại nhiều cho chính quyền theo nguyên tắc của họ.

Tòa án hiến pháp


Hiến pháp thường được bảo vệ ở mỗi quốc gia bằng "tòa án hiến pháp"("tòa bảo hiến") hoặc "tòa án tối cao". Tòa án này phân xử sự tương thích của các điều khoản pháp luật với các nguyên tắc của hiến pháp. Đặc biệt quan trọng là trách nhiệm của tòa này là bảo vệ các quyền và tự do do hiến pháp quy định.

Sự vi phạm hiến pháp, hay vi hiến, là một hành động hay hành động luật trái với hiến pháp được tòa án phân xử. Ví dụ về sự vi phạm hiến pháp ở bộ phận hành pháp có thể là mộtchính trị gia lạm dụng quyền hành của mình hay bộ phận lập pháp cố thông qua luật trái với hiến pháp mà không thông qua quá trình tu chính hiến pháp trước.

Tòa hiến pháp thường gọi là tòa phương án cuối cùng, một thực thể pháp luật cao nhất trong chính phủ. Quá trình thẩm định pháp lý thường được tích hợp vào hệ thống tòa phúc thẩm. Đây là một vụ kiện như với Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Các vụ kiện thường được xét xử ở một tòa án thấp hơn trước khi mang ra trước tòa án tối cao, ngoại trừ các vụ kiện mà tòa tối cao có quyền xét xử trước. Một số quốc gia khác lập ra một tòa đặc biệt chỉ để bảo vệ hiến pháp như ở Tòa án Hiến pháp Đức. Hầu hết các tòa hiến pháp là công cụ quyền lực của quá trình cân nhắc luật có quyền tuyên bố luật "vi hiến", không hợp với hiến pháp. Hiệu lực của việc quyết định này thay đổi tùy theo chính phủ nhưng đều phổ biến cho các hoạt động của tòa án để quyết định một luật nào đó không thể đưa vào cuộc sống, như trường hợp của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nhiều tòa bị rắc rối khi dựa vào sự hợp tác của hai bộ phận hành pháp và lập pháp để thi hành quyết định của họ một cách thích hợp. Ở quyết định của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đảo lộn chủ thuyết "độc lập nhưng bình đẳng" trong thập niên 1950 dựa vào sự hợp tác của từng tiểu bang để thi hành luật. Một số không thực hiện được, phải nhờ đến sự can thiệp của chính phủ. Các quốc gia khác, như #Pháp, có Hội đồng hiến pháp Pháp chỉ phân xử tính hợp hiến của luật trước quá trình phê chuẩn.

Một số quốc gia, chủ yếu là những quốc gia có hiến pháp không được điều lệ hóa, không có những tòa án như vậy - ví dụ như Anh, theo truyền thống các chức năng dưới nguyên tắc của quyền tối cao nghị viện là cơ quan lập pháp có quyền ban hành bất cứ luật mà cơ quan đó muốn. Tuy nhiên, vì là thành viên của Liên minh Châu Âu, Anh phải tuân theo quyền hạn của luật Cộng đồng Châu Âu và Tòa án Châu Âu. Tương tự như vậy, bằng việc thừa nhận Ủy ban Nhân quyền Châu Âu của Hội đồng Châu Âu, nó phải tuân thủ Tòa án Nhân quyền Châu Âu. Kết quả là, những cơ quan này là các tòa án hiến pháp có thể vô hiệu hóa hoặc giải thích pháp luật Anh, được thiết lập trước tiên có nguồn gốc từ vụ #Factortame.

Hiến pháp Việt Nam



  • Hiến pháp CHXHCNVN 1992 (bản sửa đổi 2001)
  • Hiến pháp CHXHCNVN 1992
  • Hiến pháp CHXHCNVN 1980
  • Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967
  • Hiến pháp VNDCCH 1960
  • Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1956
  • Hiến pháp VNDCCH 1946


Nguồn: #wikipedia.org
by Luật Sư
on 03.10.15 20:57
 
Search in: Thuật ngữ pháp lý
Chủ đề: Thuật ngữ pháp lý: Hiến pháp
Trả lời: 0
Xem: 1076

Về Đầu Trang

Chuyển đến