Hôm nay: 15.08.22 4:12

Tìm thấy 18 mục

Luật hình sự: Xử lý hình sự và hành chính đối với hành vi đánh bạc

Tôi muốn hỏi thế nào là đánh bạc, và đánh bạc trong trường hợp nào thì bị xử lý hình sự, trường hợp nào thì bị xử phạt hành chính? (Lâm - NA)


Đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp, khi đó đặt ra vấn đề pháp lý đối với hành vi đánh bạc.

Trách nhiệm hình sự

1. Tội đánh bạc được quy định tai Điều 248, BLHS 1999, sửa đổi bổ sung. Theo đó: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên; c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”.
Như vậy, Trường hợp chứng minh được số tiền đánh bạc của những người tham gia trên 2.000.000đ thì những người tham gia đánh bạc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc.
Đối với đối tượng đã bị kết án về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc mà chưa được xóa án tích mà số tiền hiện vật có giá trị dưới 2 triệu đồng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét.
Mức phạt và hình thức phạt phụ thuộc vào tình tiết của tội phạm, chẳng hạn phạm tội thuộc vào điểm a, khoản 2, Điều 248 là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.  Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp (điểm d, khoản 2, Điều 1, Nghị quyết 01/2010 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 148 và Điều 249 của bộ luật hình sự) thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Trách nhiệm hành chính

1. Khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đánh bạc, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hành chính bằng việc có thể bị phạt tiền như theo quy định tại điều 248, BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009. Đồng thời, trách nhiệm hành chính đặt ra đối với hành vi đánh bạc kể cả khi hành vi đó không cấu thành tội phạm. Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2011 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự,
Điều 23, Nghị định 73/2010 quy định mức phạt đối với hành vi đánh bạc trái phép. Theo đó,
Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các ô số lô, số đề nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi đánh bạc sau đây nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật; Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép…
Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác…
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi tổ chức đánh bạc sau đây nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép; Dùng nhà của mình hoặc địa điểm khác để chứa bạc, gá bạc…
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi tổ chức đánh đề sau đây nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Làm chủ lô, đề; Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề…
Ngoài phạt tiền, người có hành vi đánh bạc trái phép còn bị áp dụng hình thức phạt bổ sung Tịch thu tang vật, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm.

Như vậy, pháp luật quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý đối với hành vi đánh bạc, thể hiện được tính chất nghiêm khắc đối với các đối tượng thực hiện hành vi này



Nguồn: #doisongphapluat.com
by Lão Luật
on 03.10.15 8:02
 
Search in: Luật hình sự
Chủ đề: Luật hình sự: Xử lý hình sự và hành chính đối với hành vi đánh bạc
Trả lời: 0
Xem: 571

Luật hình sự: Giết con mới đẻ bị xử lý ra sao?

Giết con mới đẻ có bị cho là phạm tội không? và nếu có thì bị xử lý như thế nào?


Về câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Điều 94 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về Tội giết con mới đẻ như sau:
Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm
Tội giết con mới đẻ là trường hợp đặc biệt của tội giết người (Trong Bộ luật Hình sự năm 1985 giết con mới đẻ được quy định là trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt của tội giết người mà không quy định riêng thành một tội phạm độc lập như Bộ luật Hình sự hiện hành). Chủ thể của tội giết con mới đẻ là tội phạm có chủ thể đặc biệt chỉ là người mẹ. Bởi lẽ, chỉ có người mẹ mới có thể lâm vào tình trạng tâm sinh lý không bình thường do tác động của việc sinh con trong khoảng thời gian theo hướng dẫn tại Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao là 7 ngày kể từ ngày sinh con kết hợp với hoàn cảnh bất đắc dĩ (do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc do hoàn cảnh đặc biệt khác) mà giết con mới để hoặc vứt bỏ đứa con mới đẻ dẫn đến hậu quả chết người. Còn người cha không thể rơi vào trạng thái này được và người cha mà giết con mới đẻ thì thuộc trường hợp giết người bình thường.


by Lão Luật
on 03.10.15 7:59
 
Search in: Luật hình sự
Chủ đề: Luật hình sự: Giết con mới đẻ bị xử lý ra sao?
Trả lời: 0
Xem: 420

Luật hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chào báo Đời sống và Pháp luật, mong báo giúp tôi tư vấn việc như sau. Tôi quen và yêu một người con trai. Tôi giúp họ vay 30 triệu. Giờ tôi đòi mà họ không đưa, khi cho mượn tiền tôi lại không viết giấy tờ gì. 


Giờ chỉ có nội dung vay tiền nợ trên tin nhắn điện thoại và zalo thôi. Giờ tôi phải làm thế nào để lấy tiền. Tôi mới biết anh ta có vợ ở quê. tôi có nên về quê anh ta đòi nợ không. Anh ta dọa giết hoặc thuê người đánh tôi nếu tôi làm lớn chuyện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự.

Để cấu thành tội lừa đảo, người thực hiện phải dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Cho nên, trong trường hợp này, để có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự, bạn phải chứng minh nội dung vay tiền nợ trên tin nhắn điện thoại và zalo, số điện thoại là của người con trai kia.
Điều 139BLHS quy định: 
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Bạn cũng có thể báo công an về hành vi đe dọa đánh, giết bạn cho cơ quan công an điều tra, xử lý.


by Lão Luật
on 03.10.15 7:56
 
Search in: Luật hình sự
Chủ đề: Luật hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trả lời: 0
Xem: 418

Mức phạt nồng độ cồn vượt quá mức cho phép đối với xe máy?

Mức phạt nồng độ cồn vượt quá mức cho phép đối với xe máy theo quy định là bao nhiêu? Tối qua đi uống bia với bạn về lúc hơn 8 giờ tôi đã bị cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe kiểm tra nồng độ cồn. 


Sau đó, họ nói nồng độ cồn của tôi vượt quá mức cho phép và bị phạt 800 nghìn đồng mà không nói vượt mức bao nhiêu. Xin hỏi cảnh sát giao thông làm như thế có đúng không? 

Mức phạt nồng độ cồn vượt quá mức cho phép đối với xe máy được quy định theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP thì mức xử phạt đối với người điều khiển xe gắn máy mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn được quy định như sau:

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng khi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở. Ngoài ra, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở. Ngoài ra, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 02 tháng.


Nguồn: #doisongphapluat.com
by Lão Luật
on 03.10.15 7:51
 
Search in: Luật giao thông
Chủ đề: Mức phạt nồng độ cồn vượt quá mức cho phép đối với xe máy?
Trả lời: 0
Xem: 679

Những tội danh được đề xuất bãi bỏ hình phạt tử hình

Theo một số ý kiến tại hội thảo “Một số định hướng cơ bản của dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi)” thì sẽ có 7 tội danh không bị áp dụng mức hình phạt cao nhất là tử hình.


Theo đó, những tội danh được đề xuất bỏ hình phạt #tử-hình bao gồm: Tội cướp tài sản; phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; chống mệnh lệnh; đầu hàng địch; phá hoạt hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh.

Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại hội thảo “Một số định hướng cơ bản của dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi)” được Ủy ban #Tư-pháp của Quốc hội tổ chức tại Hòa Bình ngày 24/3.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng cho biết một trong những định hướng lớn nhất của dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) lần này là hạn chế phạm vi áp dụng hình phạt #tử-hình.

“Chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với một số ít trường hợp phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng có tính chất dã man, tàn bạo, xâm phạm tính mạng của con người (như giết người dã man; giết người cướp của; giết người và hiếp dâm; giết người vì động cơ đê hèn...); đe dọa nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và sự phát triển giống nòi (một số tội phạm về ma túy)...” - ông Tụng nói.

Bên cạnh quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi như hiện nay, dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) bổ sung thêm đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người từ 70 tuổi trở lên.
Topics tagged under doisongphapluat on Diễn đàn luật sư Việt Nam - Page 2 Tu-hinh

Cũng tại cuộc hội thảo này, nhiều ý kiến tỏ ra đồng tình với đề xuất trên. Báo Dân trí dẫn lời ông Ông Nguyễn Tất Viễn - Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương cho biết, Bộ #luật Hình sự hiện hành có 22 tội danh quy định xử hình phạt tử hình, nếu bỏ đi 7 tội thì vẫn còn là quá cao.

“Tử hình là hình phạt tước đi quyền sống - quyền quan trọng nhất của con người nên việc kết án tử hình cũng đồng thời tước bỏ cơ hội tái hòa nhập cộng đồng và phục thiện, loại trừ khả năng khắc phục oan sai có thể xảy ra trên thực tế”- ông Viễn nói và cho rằng việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình là hết sức cần thiết.

Đồng tình với ông Viễn, Phó chánh án #TAND Tối cao Nguyễn Sơn cho biết trong quá trình thảo luận, góp ý cho dự thảo bộ luật này đã có nhiều ý kiến cho rằng nên loại bỏ tử hình ở một số tội danh khác nữa.

Điều quan trọng nhất trong chính sách hình sự cần hướng, theo ông Độ, chính là hướng đến tính hướng thiện. Ông Độ ví dụ về vụ án buôn bán ma túy tại Quảng Ninh mới được đưa ra xét xử mới đây. Trung tướng Trần Văn Độ - nguyên Chánh án Tòa án quân sự Trung ương, nguyên Phó chánh án TAND Tối cao bày tỏ, nếu cho rằng phải trấn áp, xử phạt thật mạnh, thật nặng thì tội phạm mới giảm thì đó là quan điểm sai lầm.

“Nếu đúng theo quy định của pháp luật thì có thể 60 trường hợp bị áp dụng án tử hình, nhưng qua cân nhắc, tòa đã chỉ tuyên án tử đối với 30 trường hợp”- ông Độ nói.

Các đại biểu cũng đồng tình với việc giữ hình phạt tử hình đối với một số tội như tội Tham nhũng và tàng trữ, vận chuyển ma túy bởi việc buôn bán, vận chuyển chất ma túy bởi những tội danh này cần phải nghiêm trị và vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp nên cần phải có biện pháp xử lý nghiêm.

by Lão Luật
on 03.10.15 7:35
 
Search in: Góc nhìn luật sư
Chủ đề: Những tội danh được đề xuất bãi bỏ hình phạt tử hình
Trả lời: 0
Xem: 624

Quy định một số mẫu giấy tờ về luật sư và hành nghề luật sư

Bộ Tư pháp vừa ban hành Thông tư số 02/2015/TT-BTP  ngày 16 tháng 01 năm 2015 quy định một số mẫu giấy tờ về luật sư và hành nghề luật sư.


Theo đó, đối tượng áp dụng tại Thông tư là người đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư; luật sư Việt Nam; luật sư nước ngoài đề nghị cấp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam; người nộp hồ sơ đăng ký hoạt động tổ chức hành nghề luật sư/chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam; người nộp hồ sơ thành lập chi nhánh/công ty @luật nước ngoài, đăng ký hoạt động của chi nhánh/công ty luật nước ngoài; tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam; tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam; cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư.

Thông tư đã ban hành 22 mẫu giấy tờ thay vì 29 mẫu giấy tờ như Thông tư 17/2011/TT-BTP.

Cách thức đánh số Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân được thực hiện theo Điều 6 của Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư, Nghị định hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Luật sư về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của #luật-sư.

Các mẫu giấy tờ quy định tại Thông tư này được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Các cá nhân, tổ chức truy cập vào cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp ( www.moj.gov.vn/bttp ) để in và sử dụng các mẫu giấy tờ này.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 3 năm 2015. Các giấy tờ theo mẫu quy định tại Thông tư số 17/2011/TT-BTP được cấp trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành vẫn có giá trị pháp lý.
by Lão Luật
on 03.10.15 7:23
 
Search in: Chính sách mới
Chủ đề: Quy định một số mẫu giấy tờ về luật sư và hành nghề luật sư
Trả lời: 1
Xem: 800

Xử phạt hành vi phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động

Người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn trong việc tuyển dụng lao động sẽ bị xử phạt từ 5-10 triệu đồng.


Đề xuất trên được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đưa ra tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Tại dự thảo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã đề xuất bổ sung một số quy định nhằm xử lý vi phạm về tuyển, quản lý lao động.

Cụ thể, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất phạt tiền từ 1- 3 triệu đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

1- Không thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại điện nơi tuyển lao động về nhu cầu tuyển dụng lao động ít nhất 5 ngày làm việc trước khi nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển của người lao động.
2- Không khai trình sử dụng lao động khi bắt đầu hoạt động của người sử dụng lao động quy định tại  Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 03/2014/NĐ-CP; 3- Không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 03/2014/NĐ-CP; 4- Không lập sổ quản lý lao động theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 03/2014/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, sẽ phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi: Phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo, nhiễm #HIV, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn trong việc tuyển dụng lao động.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đề xuất quy định biện pháp khắc phục hậu quả gồm: Buộc người sử dụng lao động phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại điện nơi tuyển lao động về nhu cầu tuyển dụng lao động; buộc người sử dụng lao động phải thực hiện khai trình sử dụng #lao-động; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định; lập sổ quản lý lao động, quản lý và sử dụng sổ quản lý lao động theo quy định.

by Lão Luật
on 03.10.15 7:20
 
Search in: Chính sách mới
Chủ đề: Xử phạt hành vi phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động
Trả lời: 1
Xem: 944

Điều kiện lựa chọn dự án theo hình thức đối tác công tư

Các dự án được lựa chọn để thực hiện theo hình thức công đối tác công tư phải đáp ứng được các điều kiện theo Nghị định về đầu tư theo đối tác công tư vừa được Chính phủ ban hành và có khả năng thu hồi vốn từ hoạt động kinh doanh.


Nghị định số 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015 quy định cụ thể về 5 điều kiện lựa chọn dự án theo hình thức đối tác công tư. Đây là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.
Theo đó, dự án phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; phù hợp với lĩnh vực đầu tư theo quy định.
Dự án có khả năng thu hút và tiếp nhận nguồn vốn thương mại, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư và khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ liên tục, ổn định, đạt chất lượng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
Điều kiện đáng lưu ý khác là dự án phải có tổng vốn đầu tư từ 20 tỷ đồng trở lên, trừ dự án đầu tư theo hợp đồng O&M và dự án công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.


Topics tagged under doisongphapluat on Diễn đàn luật sư Việt Nam - Page 2 Du-an-cong-tu
Hình minh họa.

Dự án chưa có trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương phải được Bộ, ngành, #UBND cấp tỉnh xem xét bổ sung theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Dự án đáp ứng các điều kiện quy định nêu trên có khả năng thu hồi vốn từ hoạt động kinh doanh được ưu tiên lựa chọn.
Nghị định cũng quy định cụ thể vốn chủ sở hữu và vốn huy động của nhà đầu tư. Theo đó, nhà đầu tư chịu trách nhiệm góp vốn chủ sở hữu và huy động các nguồn vốn khác để thực hiện dự án theo thỏa thuận tại hợp đồng dự án.
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 15% tổng vốn đầu tư. Đối với dự án có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu được xác định theo nguyên tắc lũy tiến từng phần. Cụ thể, đối với phần vốn đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 15% của phần vốn này; đối với phần vốn trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 10% của phần vốn này.
Vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án không tính vào tổng vốn đầu tư để xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu.
Dự án khác do nhà đầu tư thực hiện để thu hồi vốn đã đầu tư vào công trình dự án BT phải đáp ứng yêu cầu về vốn chủ sở hữu (nếu có) theo quy định của pháp #luật.
Nguồn: #doisongphapluat.com
by Lão Luật
on 03.10.15 7:09
 
Search in: Chính sách mới
Chủ đề: Điều kiện lựa chọn dự án theo hình thức đối tác công tư
Trả lời: 1
Xem: 761

Về Đầu Trang

Trang 2 trong tổng số 2 trang Previous  1, 2

Chuyển đến